Quốc hội khóa VI nhiệm kỳ 1976 - 1981 là Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất. Những quyết định trọng đại của kỳ họp này đã đi cùng chúng ta tròn 50 năm.

Vào đầu năm 1976, khi tôi 24 tuổi, đang công tác tại Thành Đoàn Sài Gòn - Gia Định thì được lãnh đạo Thành Đoàn và Hội nghị Hiệp thương thành phố giới thiệu ra ứng cử đại biểu Quốc hội khóa VI.
Tôi khá bất ngờ vì bản thân là một thanh niên còn trẻ tuổi và quá trình tham gia cách mạng chưa nhiều. Nghĩ đến nhiệm vụ to lớn mà người đại biểu Quốc hội phải thực hiện, tôi băn khoăn lo lắng, nhất là trong tình thế đời sống, tâm tư người dân và thanh niên Sài Gòn đang ngổn ngang bao điều, như tìm công ăn việc làm, đi học tập cải tạo, lý lịch dính dáng chế độ cũ thì có được thi đại học...
Tôi hiểu rằng mình được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội không phải do bản thân mình giỏi giang, cũng không chỉ do trẻ tuổi. Được nhiều cử tri Sài Gòn bỏ phiếu tín nhiệm có lẽ do tôi đã sinh trưởng tại Sài Gòn, đã đồng cam cộng khổ cùng đồng bào và giới trẻ trong cuộc đấu tranh trường kỳ giành hòa bình, độc lập, tự do.

Hàng chục tờ nhật báo xuất bản tại Sài Gòn những năm 1970 - 1971 thường xuyên đưa tin về hoạt động phong trào đấu tranh của giới sinh viên - học sinh Sài Gòn và các đô thị miền Nam Việt Nam - chống đàn áp, bắt bớ sinh viên - học sinh yêu nước, chống thu học phí trường công, đòi tự trị đại học, tự do, dân chủ, hòa bình… cùng những cái tên Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi, Hạ Đình Nguyên, Võ Như Lanh, Nguyễn Hoàng Trúc, Nguyễn Thị Yến…
Danh sách ứng cử viên Quốc hội khóa VI tại Sài Gòn lúc đó gồm nhiều vị lãnh đạo cấp cao của Trung ương Đảng và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam như các ông Phạm Hùng (Bí thư Trung ương Cục miền Nam), luật sư Nguyễn Hữu Thọ (Chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam), kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát (Thủ tướng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam);
Ông Võ Văn Kiệt (Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Sài Gòn), thượng tướng Trần Văn Trà, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, bác sĩ Nguyễn Văn Thủ, bác sĩ Dương Quỳnh Hoa (Thứ trưởng Bộ Y tế Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam), chị Võ Thị Thắng, bác sĩ Nguyễn Ngọc Hà (Tổng thư ký Hội Việt kiều yêu nước tại Pháp), giáo sư Lý Chánh Trung, luật sư Nguyễn Long, luật gia Ngô Bá Thành, linh mục Huỳnh Công Minh, thượng tọa Thích Hiển Pháp, anh Huỳnh Tấn Mẫm…

Được tin tưởng đứng bên cạnh những tên tuổi đó, trước mỗi cuộc tiếp xúc cử tri, tôi chuẩn bị rất kỹ bài phát biểu về chương trình tranh cử, bao gồm nội dung đề đạt với Quốc hội nghiên cứu và ban hành chính sách tạo công ăn việc làm cho sinh viên tốt nghiệp, cho thanh niên lao động, tăng cường chế độ dinh dưỡng cho lực lượng Thanh niên xung phong…
Trong các cuộc tiếp xúc, các bạn cử tri trẻ cũng góp ý, đặt hàng với chúng tôi xoay quanh vấn đề duy trì hòa bình đất nước, ổn định đời sống, việc học, việc làm, mưu sinh lập nghiệp, phát triển sản phẩm văn hóa lành mạnh…

Dân Sài Gòn vốn tính khẳng khái, bộc trực, nên các cuộc vận động bầu cử Quốc hội, người dân đến dự rất đông và hăng hái chất vấn ứng cử viên, khiến nhiều ứng cử viên phải toát mồ hôi và căng đầu óc để nghĩ ra câu trả lời thuyết phục. Lãnh đạo thành phố chỉ đạo các cấp chủ động mở ra nhiều phương thức vận động tranh cử sáng tạo, dân chủ.
Ngoài các cuộc tiếp xúc cử tri mang tính tranh cử, đối thoại, còn cho phép ứng cử viên viết bài đăng báo tự giới thiệu chương trình hoạt động - tranh cử của mình; báo chí cử phóng viên phỏng vấn, viết bài giới thiệu cá nhân ứng cử viên…
Cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội nước Việt Nam được tổ chức ngày 25-4-1976. Hơn 23 triệu cử tri cả nước đã lựa chọn và bầu cử 492 đại biểu vào Quốc hội khóa VI.

Vào ngày 24-6-1976, tại thủ đô Hà Nội đã diễn ra phiên khai mạc Quốc hội khóa VI trong không khí đoàn tụ toàn dân tộc tràn đầy xúc động.
Hội trường Ba Đình đã trở nên chật hẹp do vốn chỉ thiết kế không gian đủ cho số đại biểu Quốc hội miền Bắc trước năm 1976. Niềm vui đoàn tụ hai miền Nam Bắc sau hơn 20 năm chia cách khiến đại biểu ai cũng rạng rỡ, thần thái vui tươi.
Mọi người chen chúc nhìn mặt, bắt tay các nhân vật nổi tiếng như các nhà lãnh đạo Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Tôn Đức Thắng, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Thị Bình; các tướng lĩnh lừng danh như Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Trần Văn Trà, Nguyễn Thị Định, Đồng Văn Cống; các văn nghệ sĩ Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên, Trà Giang; những anh hùng quân đội như anh hùng Núp, Võ Thị Thắng, Lê Thanh Đạo…

Các hãng thông tấn, báo chí, truyền hình nổi tiếng thế giới như AFP, BBC, NHK, TASS… cùng hàng trăm phóng viên trong nước và nước ngoài đã đăng ký tham dự, đưa tin về kỳ họp trọng đại này.
Quả là trọng đại. Hai quyết định lớn nhất của kỳ Quốc hội năm ấy: đổi tên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa thành Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, và chính thức đặt tên thành phố Sài Gòn - Gia Định là thành phố Hồ Chí Minh.
Mới đó mà đến nay tròn 50 năm. Tôi vẫn còn nhớ những cuộc thảo luận. Bàn về tên nước, đại biểu có hai luồng ý kiến chính: một là nên giữ lại tên Việt Nam Dân chủ cộng hòa, vì có nội hàm rộng lớn và vì tên nước này do Bác Hồ đặt từ năm 1946; hai là đặt tên mới Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam vì nay nước nhà đã thống nhất, mục tiêu cách mạng dân tộc, dân chủ đã hoàn thành, chúng ta đi vào tiến hành đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trên toàn quốc. Cuối cùng, Quốc hội biểu quyết tên nước từ nay sẽ là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Khi bàn về việc đổi tên thành phố Sài Gòn - Gia Định thành thành phố Hồ Chí Minh, lập tức tất cả đại biểu đều đồng thuận. Ai cũng biết chuyện cán bộ chiến sĩ miền Nam đã nêu nguyện vọng này, tình cảm này từ 30 năm trước - năm 1946, và trên thực tế đã được sử dụng rồi, ngay trên báo Tuổi Trẻ của chúng tôi. Và vậy là kể từ ngày 2-7-1976, Sài Gòn chính thức mang tên mới: Thành phố Hồ Chí Minh.
Riêng tôi còn có một trải nghiệm khác. Lần đầu tiên tôi nghe gọi tên thành phố Hồ Chí Minh là vào khoảng 1h sáng ngày 1-5-1975 tại nhà tù Côn Đảo. Lúc đó tôi đang bị giam trong một "chuồng cọp" - thuộc trại biệt giam số 7 - chung với 4 người tù chính trị khác.
Đang ngủ chập chờn, chúng tôi choàng dậy vì nghe tiếng hô la của nhiều người từ khu trại giam khác văng vẳng theo gió biển: "Hoan hô thành phố Sài Gòn, thành phố Hồ Chí Minh đã hoàn toàn giải phóng! Hoan hô!…".

Đến phần tham luận, đã có đến hơn 50 bản tham luận của các tỉnh thành, các bộ ngành trình bày trước Quốc hội, kéo dài gần cả tuần. Riêng đoàn thành phố Sài Gòn có bản tham luận của ông Võ Văn Kiệt - Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Sài Gòn kiêm Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố.
Một buổi, ông gọi tôi lại, bảo: "Nuôi viết một bài về đề tài "Thanh niên thành phố Hồ Chí Minh vươn lên sau ngày 30-4" để đăng đàn ở Quốc hội vào ngày mai. Viết xong đưa chú xem lại nha".

Bản tham luận đó được đọc trước phiên họp toàn thể. Tôi đã khái quát bối cảnh xã hội Sài Gòn và những vấn đề lớn của đời sống thanh niên. Công nhân lao động đang phát huy sáng kiến nhằm giải quyết tình trạng nhà máy thiếu nguyên vật liệu, phụ tùng, qua đó xuất hiện nhiều gương lao động xuất sắc như Trần Thị Bé Bảy.
Thanh niên nông thôn các huyện vùng ven đi đầu trong việc tháo gỡ bom mìn còn sót lại, giúp bà con nông dân khai hoang phục hóa, mở rộng diện tích làm mùa, từ mặt trận mới này đã xuất hiện những kiện tướng gỡ mìn như Phan Văn Đu. Từng là một du kích quân giải phóng, sau ngày hòa bình, anh đã phá hủy, tháo gỡ hàng trăm trái mìn.
Đến một hôm, một trái mìn đã nổ trên cánh đồng, cướp mất của anh Đu hai cánh tay và một mắt. Trên diễn đàn "Đại hội Thanh niên tiên tiến 1976", anh Đu điềm tĩnh nói: "Chiến tranh, biết bao anh em đồng đội của tôi đã hy sinh. Bây giờ, vì cuộc sống đồng bào, mình có mất một mắt, một phần thân thể cũng không sao!".
Lực lượng Thanh niên xung phong thành phố ra quân ngày 26-3-1976 với gần 20.000 người trẻ tình nguyện tham gia xây dựng các vùng kinh tế mới và các công trình thủy lợi ngoại thành. Ông Võ Văn Kiệt, Chủ tịch thành phố và anh Phạm Chánh Trực - Bí thư Thành Đoàn - đã phất cờ xuất quân.
Chỉ sau 3 tháng, trên các nông trường đã xuất hiện những kiện tướng đào kinh như Trần Văn Đệ, Mai Thị Thu Vân… Mặt khác, giới sinh viên - học sinh là lực lượng tham gia đông đảo nhất trong phong trào lao động tình nguyện như dọn dẹp hàng ngàn đống rác khổng lồ ứ đọng trên đường phố; ổn định trật tự giao thông, truy quét thu gom văn hóa phẩm đồi trụy…

Phần kết, tôi nêu: Về chính sách với thanh niên, ngoài nhất trí những đề xuất của anh Phan Minh Tánh (Bí thư Trung ương Đoàn thanh niên lao động Hồ Chí Minh), chúng tôi kiến nghị Quốc hội và Chính phủ sớm ban hành những chính sách về kinh tế - đời sống với lực lượng Thanh niên xung phong, sớm thực hiện cải cách giáo dục và phân bổ lao động - việc làm hợp lý để giải quyết khối lượng khá lớn sinh viên - học sinh ở Sài Gòn không còn tiếp tục theo học được. Kết thúc bài tham luận, tôi mượn lời chú Võ Văn Kiệt phát biểu trong Đại hội Thanh niên tiên tiến năm 1976: "Một chế độ lôi cuốn được ngay từ đầu đông đảo lứa tuổi thanh xuân đến với mình là một chế độ rất thanh xuân và rất mạnh".
Bài tham luận được đại biểu vỗ tay nhiều lần. Khi tôi vừa bước xuống bục, ông Phạm Hùng đứng dậy ôm hôn tôi. Đến giờ giải lao, nhiều người như nhà thơ Chế Lan Viên, giáo sư Nguyễn Thiện Thành vỗ vai tôi khen ngợi: "Bài cậu nói về thanh niên Sài Gòn rất hay, rất xúc động!".
