
Đại tá - Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Tàu
... Lúc tiễn chúng tôi ra về, như ông từng nói hồi tuần trước, năm ngoái, năm kia, như hơn 20 năm tôi được may mắn quen biết ông, như hơn 40 năm qua ông đã tự nguyện gánh cho mình sứ mệnh kể chuyện.
Chuyện về hơn 30 năm ông và các đồng đội của mình đã đi trong lịch sử đất nước.
98 tuổi, những câu chuyện ông kể lạ thay vẫn sống động, rành mạch, chi tiết như vừa diễn ra hôm qua, thỉnh thoảng lại được ông chen thêm vài câu thơ tự sáng tác, một bài hát đã in trong tâm khảm, một bình luận hài hước, bao dung của trải nghiệm và thời gian.
Không ngạc nhiên khi nhà ông thường xuyên có khách đến thăm, xin được nghe một câu chuyện bất chợt dù có khi đã thuộc lòng, lại có cả nhà văn ghi chép những lời kể mà in thành sách - dù sách do chính ông viết đã in đến cuốn thứ 6 và tái bản nhiều lần.
Hôm nay, ông đưa tay khoe với tôi: "Cái đồng hồ mới này do bà dịch giả người Nga vừa dịch cuốn Chuyện kể của H63 ra tiếng Nga gửi tặng. Người Nga đọc chuyện tình báo Việt Nam mà họ cũng mê".

Ông Tư Cang trò chuyện với bạn trẻ Võ Ngọc Minh Anh tại nhà riêng vào tháng 4-2026 - Ảnh: T.T.D.
Nước mắt
Vâng, ai cũng mê nên câu chuyện về cụm điệp báo H63 với những người anh hùng: điệp viên Phạm Xuân Ẩn, giao liên Nguyễn Thị Ba, Tám Thảo, giao thông Nguyễn Văn Thương, cụm trưởng Nguyễn Văn Tàu dẫu đã được khai thác qua hàng trăm bài báo, hàng chục cuốn sách, phim tài liệu nhưng vẫn còn ẩn chứa nhiều bí mật hấp dẫn, và nay thì thêm một dự án phim điện ảnh đang được khởi động. Nhưng câu chuyện ít người biết hơn là câu chuyện của chính ông Tư Cang trong 51 năm hòa bình.
Ngày 30-4-1975 thật dài với những diễn biến dồn dập và các nhiệm vụ quan trọng của Lữ đoàn đặc công biệt động 316 mà ông là chính ủy: chiếm giữ cầu Rạch Chiếc mở đường để đại quân tiến vào Sài Gòn, bảo vệ nhà máy nước, nhà máy điện để đảm bảo sinh hoạt bình thường cho thành phố, tiếp quản trụ sở ở Bộ Tổng tham mưu, nối liên lạc với các cơ sở nội thành.
Trong niềm vui hòa bình lớn lao bao phủ ngập tràn, ông Tư Cang có hai niềm vui riêng cũng lớn lao không kém.
Một đến vào giữa trưa, khi bản tin chính quyền Việt Nam Cộng hòa đầu hàng được phát đi, ông được bắt tay từ giã đồng chí đội trưởng pháo binh, được chính thức hủy nhiệm vụ đặt pháo trên các cao điểm của thành phố mà chỉ trước đó vài tiếng cả hai đã phải cùng nhau bàn bạc kỹ lưỡng đề phòng tình huống xấu.
Niềm vui thứ hai đến vào giữa đêm, khi lần đầu ông được lái xe vào khu cư xá ngân hàng ở Thị Nghè, lần đầu được gọi tên con gái, lần đầu được ăn bữa cơm gia đình với cả vợ - con - cháu ngoại sau hai mươi tám năm ròng. Chén cơm nóng nâng trên tay lúc nửa đêm, giọt nước mắt của người đàn ông dạn dày rớt xuống.
28 năm cất bước ra đi từ ngày còn là cậu thanh niên 19 tuổi, khoảng cách thời gian nghe như giả tưởng nhưng lại là sự thật.
Ở trong ấy có những khoảnh khắc sống chết khi bom rơi mìn nổ, lại có những giờ phút dài như thế kỷ khi chém vè dưới địa đạo đang cạn dần dưỡng khí, có những trận chống càn ác liệt giữa căn cứ, lại có những trận đấu trí cân não giữa đô thành…
Hôm nay ông Tư Cang cười hà hà: "Nói như Phạm Xuân Ẩn, chúng tôi chắc hẳn là có lá số tử vi tốt. Tôi thì chưa bao giờ xem tử vi, nhưng chắc hẳn tôi được ơn trên ông bà phù hộ che chở cho, có vậy mới vượt qua được những tình huống mà tới nay tôi vẫn không hiểu được vì sao mà thoát, có vậy mà 28 năm tôi mới về mà vẫn được gặp mẹ, gặp vợ, gặp con…".
Mấy mươi năm đấu trí đấu lực, viết nên những huyền thoại trong chiến tranh, 47 tuổi ông Tư Cang lại như chưa quen với hòa bình. Từ chối công tác ở thành phố, ông tình nguyện tiếp tục cùng đơn vị trở lại với núi rừng Bình Long làm nhiệm vụ khai thác đá, nung vôi.
Rừng xanh núi đỏ vất vả, thiếu thốn nhưng niềm vui hòa bình với ông là được cùng anh em ở trong mái nhà tranh tràn nắng, lộng gió, không còn phải chui địa đạo, núp lùm cây. Nhưng niềm vui giản dị ấy cũng không kéo dài lâu.
Bên kia cánh rừng Bình Long là biên giới, chiến tranh đã lại bắt đầu. Lực lượng đặc công biệt động lại buông xuống cây búa để tiếp tục cầm súng.
Sau mấy trận đánh, ông Tư Cang được xếp loại thương binh hạng 2/4, mất 61% sức khoẻ, ông được chuyển công tác và chuẩn bị nghỉ hưu. Cả đời xông pha ở tuyến đầu, quen gánh những trách nhiệm hiểm nguy nặng nề nhất, ông Tư Cang một lần nữa rơi nước mắt trên tờ giấy quyết định hưu trí.

Ông Tư Cang trong buổi họp mặt Lữ đoàn 316 dịp 30-4-2025 - Ảnh: VŨ TUẤN
Nụ cười
Lần này ông thật sự về với gia đình ở tuổi ngoài 50, giữa thời điểm khó khăn nhất của nền kinh tế cả nước. Mảnh đất được cấp gần kinh Thanh Đa ngập bùn lầy.
Hai vợ chồng bắt tay vào dựng căn nhà ván, quây cái chuồng heo, rải dây rau muống, hạt đu đủ. "Nhưng buổi ấy làm mấy rồi vẫn nghèo, vẫn đói, lại vin vào anh em", ông cười.
Người đồng đội Bảy Thanh (tức trung tướng Võ Viết Thanh) khi đó là Chỉ huy trưởng lực lượng Thanh niên xung phong đến thăm, thấy cảnh khó quá, bèn ký giấy phân cho ông một công việc trong lực lượng. "Thế là tôi trở thành tổ trưởng tổ khai thác lồ ô để đưa về phân xưởng bột giấy, lại trở lại với rừng thêm vài năm, đến khi bớt nhọc chút thì lại về nhà nuôi heo, làm vườn".
Mảnh vườn ấy đến nay ông còn ghi bao kỷ niệm: vết rắn chuông kịch độc cắn trên ngón tay mà "lại nhờ ông bà độ, trước đó tôi đã bắn trúng khấu đuôi nó nên trong cái nanh lại không có nọc độc"; mấy trái đu đủ xanh chín bỏ vào bọc, treo trên đầu xe đạp để ông Ẩn chở về nhà ở quận 3; điểm họp mặt ấm áp của các cô giao liên cụm H63 dù mỗi năm lại mỗi vắng. Và căn phòng làm việc nhỏ, lúc thì ở nhà sau, khi dời ra đằng trước, nơi ông đã cặm cụi ngồi viết lại những câu chuyện của mình, của đồng đội để kể lại cho đời sau.
Ông bảo: "Tôi chỉ là người kể chuyện, những chuyện có thật trong chính đời mình, chuyện đồng đội của mình đã trải qua, đã ngã xuống. Đó là nhiệm vụ của tôi, như là để lại gạo đậu thịt heo khoai sắn. Những người sau có sử dụng được để gói bánh tét bánh chưng nấu xôi làm bánh làm chè thì tùy ở các em các cháu".
Và ông đã miệt mài kể, miệt mài viết hơn 40 năm. Ngày những câu chuyện tình báo của H63 còn được yêu cầu niêm dấu "Mật" thì ông kể chuyện 10 năm ở đất lửa địa đạo bến Đình, bến Dược, căn cứ An Phú Đông; chuyện 52 anh em Lữ đoàn 316 nằm lại cầu Rạch Chiếc vào ngày 28-4-1975 để mở cánh cửa phía bắc Sài Gòn; chuyện những con người tưởng như sắt thép nhưng lại đầy tình yêu thương với đồng đội, gia đình và đôi khi cả cảm thông với đối phương bên kia chiến tuyến.
Ngày câu chuyện H63 được phép giải mật, ông đã thay lời những người đồng đội quen "giữ miệng" của mình để kể với thế hệ sau những câu chuyện thật mà như phép lạ...
Vậy nhưng những chuyện buồn riêng mình thì ông lại cất trong lòng, không bao giờ nói. Hỏi, ông nhẹ nhàng: "Có là gì đâu so với những chuyện chúng tôi đã trải qua. Cuộc đời ai chẳng có chuyện này chuyện kia, tôi tin tưởng rằng mọi việc đâu rồi sẽ có đó".
Quả đúng là đâu rồi sẽ có đó. Dù phải về hưu sớm trước tuổi vì những khúc ngoặt lịch sử nhưng ông lại có thêm thời gian để viết ra tới 6 cuốn sách trả nghĩa cho đồng đội của mình. Dù là cụm trưởng H63 nhưng chậm được đề xuất phong Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thì những câu chuyện của ông đã ghi vào lòng người đọc, người nghe hình ảnh người anh hùng từ lâu lắm.
Hôm nay, tuổi 98 tuy chân có chậm, lưng có cong nhưng gương mặt ông vẫn đỏ đắn, nụ cười vẫn sáng rỡ, trí óc vẫn mẫn tiệp, nhiệt tâm vẫn tràn đầy. Ngày 15-3 vừa rồi, ông khiến cả khu phố xôn xao khi quần áo chỉnh tề tự chống gậy đến điểm bầu cử Quốc hội số 53 của phường Thạnh Mỹ Tây từ sáng sớm.
Ông lại kể: "Tháng 1-1946, tôi 18 tuổi, lần đầu đi bỏ phiếu khóa Quốc hội đầu tiên. Tôi nhớ trước đó ông Dương Bạch Mai đến làng tôi diễn thuyết tại ngã ba chợ, giọng nói hùng hồn, lập luận sâu sắc, và dĩ nhiên dân xứ Long Phước chúng tôi đều bỏ phiếu bầu ông ấy. Nay đúng 80 năm, tôi may mắn chân còn đi, mắt còn đọc, tai còn nghe, tay còn viết, đầu còn nghĩ, thế thì tôi phải đích thân đi bỏ phiếu".
Và hôm nay, ông lại đang tất bật chuẩn bị cho ngày truyền thống Lữ đoàn 316 (28-4), lại đang sẵn sàng góp ý cho kịch bản phim về người bạn Phạm Xuân Ẩn, và vẫn đủ để truyền sang những chàng trai cô gái tuổi 20 đến thăm ông, lắng nghe ông một nguồn năng lượng để sống những ngày ý nghĩa hơn cho cuộc đời.

Hai cuốn sách của ông Tư Cang
Người kể chuyện
Từ những năm 1985, ông Tư Cang bắt đầu dành thời gian để viết chuyện về đồng đội. Những tác phẩm của ông: Bến Dược vùng đất lửa, Hoàng hôn trên chiến trường, Sài Gòn - Mậu Thân 1968, Nước mắt ngày gặp mặt, Trái tim người lính, Tình báo kể chuyện.
"Tôi coi việc viết lại, kể lại là nghĩa vụ của mình với đồng đội, những người đã ngã xuống và những người còn đang sống - kể câu chuyện của họ để những hy sinh không bị lãng quên.
Tôi lại cũng coi đó như nhiệm vụ của mình với thế hệ sau - truyền đến các em ngọn lửa của tình yêu nước, ngụm nước mát của hòa bình. Từng ngày chúng ta đang sống đây phải dung chứa được tất cả những điều đó; niềm tin và hy vọng của người xưa nằm trong tình cảm, nhận thức và hành động của người nay", ông nói.
Ông Nguyễn Văn Tàu (còn có tên là Trần Văn Quang, bí danh Tư Cang, sinh 1928) đã gia nhập Thanh niên Tiền phong từ năm 1945, thoát ly từ 1947. Hơn 30 năm quân ngũ, ông kinh qua nhiều nhiệm vụ - vị trí, nổi bật nhất là hơn 10 năm (từ 1961-1971) làm cụm trưởng - xây dựng và vận hành cụm tình báo H63 giữa Sài Gòn với trung tâm là điệp viên - nhà báo Phạm Xuân Ẩn.
Cụm H63 là cụm tình báo chiến lược hoạt động hiệu quả nhất, cung cấp được rất nhiều tài liệu quan trọng - tối mật trong suốt thời kỳ chiến tranh Việt Nam và đảm bảo được an toàn tuyệt đối cho điệp viên.
27/45 người của cụm đã hy sinh để bảo đảm bí mật tuyệt đối, tập thể H63 được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Các thành viên của cụm như thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn, đại tá Nguyễn Văn Tàu, giao liên Nguyễn Thị Ba, Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Văn Thương (Hai Thương) cũng đều đã được tuyên dương anh hùng.