Việt Nam trước “bẫy” dân số già - Bài cuối: Giải bài toán để tăng mức sinh, bảo đảm phát triển bền vững

20/04/2026 12:46

Để khuyến sinh thời gian qua ngành Dân số và Y tế đã đưa ra nhiều giải pháp, trong đó Luật Dân số được Quốc hội thông qua được kỳ vọng sẽ tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý dân số với phạm vi điều chỉnh đầy đủ và phù hợp hơn với thực tiễn hiện nay.

Hệ luỵ khi mức sinh giảm

Theo báo cáo dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2024 - 2074 do Cục Thống kê chủ trì, phối hợp với Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) thực hiện, đến năm 2029 dân số Việt Nam theo phương án trung bình đạt khoảng 104,7 triệu người. Sau đó, dân số tiếp tục tăng nhưng sẽ có sự khác biệt giữa các kịch bản mức sinh.

Dự báo đến năm 2039, dân số Việt Nam theo phương án mức sinh trung bình ước đạt hơn 110 triệu người. Tuy nhiên, về dài hạn xu hướng phân hóa ngày càng rõ đến năm 2074, dân số theo phương án trung bình đạt khoảng 114,2 triệu người.

Trong khi phương án mức sinh thấp cho thấy dân số có thể giảm xuống còn 103,9 triệu người, còn phương án mức sinh cao đạt 118,5 triệu người. Tính trong 50 năm, dân số Việt Nam chỉ tăng thêm khoảng 12,7% theo phương án trung bình, mức tăng khá khiêm tốn so với các giai đoạn trước.

Theo báo cáo này, tháp dân số Việt Nam năm 2024 cho thấy nước ta vẫn đang trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng, khi nhóm dân số trong độ tuổi lao động (15 - 64) chiếm tỉ trọng cao nhất. Tuy nhiên, "cửa sổ cơ hội" này đang dần khép lại.

Việt Nam trước “bẫy” dân số già - Bài cuối: Giải bài toán để tăng mức sinh, bảo đảm phát triển bền vững - Ảnh 1.

Dự báo đến năm 2039, dân số Việt Nam theo phương án mức sinh trung bình ước đạt hơn 110 triệu người.

Theo dự báo, Việt Nam sẽ kết thúc thời kỳ dân số vàng vào khoảng năm 2036, sớm hơn ba năm so với dự báo đưa ra năm 2019.

Trong giai đoạn dân số vàng ngắn ngủi còn lại, quy mô dân số trong độ tuổi lao động tiếp tục tăng và đạt đỉnh vào năm 2038, với khoảng 69,5 triệu người.

Sau đó, lực lượng lao động sẽ bước vào xu hướng suy giảm kéo dài, xuống còn khoảng 61,6 triệu người vào năm 2074. Điều này đồng nghĩa với việc Việt Nam chỉ còn một khoảng thời gian rất ngắn để tận dụng lợi thế về nhân lực, trước khi đối mặt với áp lực thiếu hụt lao động và gánh nặng phụ thuộc gia tăng.

Cũng theo báo cáo dự báo, năm 2024 tỉ số giới tính khi sinh (SRB) của Việt Nam là 111,4 bé trai/100 bé gái, cao hơn khá nhiều so với mức cân bằng sinh học, khoảng 106 bé trai/100 bé gái. Tình trạng SRB ở mức cao này đã quan sát được liên tục trong nhiều năm ở Việt Nam (năm 2009: 110,5 bé trai/100 bé gái; năm 2019: 111,5 bé trai/100 bé gái).

Dự báo, nếu tỉ số giới tính khi sinh vẫn giữ nguyên như hiện nay, Việt Nam sẽ dư thừa 1,5 triệu nam giới trong độ tuổi 15-49 vào năm 2039 và con số này sẽ tiếp tục tăng lên 2,5 triệu vào năm 2059.

Trao đổi với phóng viên, Ths.BS Mai Trung Sơn - chuyên viên cao cấp của Cục Dân số, Bộ Y tế cho biết sự thay đổi trong quan niệm hôn nhân hiện nay là một trong những lý do chính khiến độ tuổi trung bình kết hôn lần đầu của dân số nước ta tăng trong thời gian qua.

Quan niệm này đã phản ánh một bước chuyển lớn trong hệ giá trị của người trẻ Việt Nam cũng như toàn châu Á.

Cụ thể, nếu trước đây kết hôn được xem là cột mốc bắt buộc của đời người thì nay nhiều người trẻ coi hôn nhân là một lựa chọn, không phải nghĩa vụ.

Họ đề cao tự do cá nhân, sự nghiệp, trải nghiệm và chất lượng mối quan hệ hơn là hình thức ràng buộc. Đây là biểu hiện của một xã hội phát triển khi con người có điều kiện tự chủ hơn, song cũng đặt ra thách thức cho các giá trị gia đình truyền thống và chính sách dân số.

Theo các chuyên gia, việc kết hôn muộn sẽ dẫn đến sinh con muộn, sinh ít con, thậm chí không sinh con từ đó làm mức sinh giảm thấp. Nếu mức sinh tiếp tục giảm, Việt Nam có nguy cơ đối mặt với những hệ lụy như thiếu hụt lực lượng lao động; đẩy nhanh tốc độ già hóa dân số; suy giảm quy mô dân số; gia tăng các dòng di cư.

Việt Nam trước “bẫy” dân số già - Bài cuối: Giải bài toán để tăng mức sinh, bảo đảm phát triển bền vững - Ảnh 2.

Nếu trước đây kết hôn được xem là cột mốc bắt buộc của đời người thì nay nhiều người trẻ coi hôn nhân là một lựa chọn, không phải nghĩa vụ.

GS.TS Nguyễn Đình Cử - nguyên Viện trưởng Viện Dân số và các vấn đề xã hội (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân) cho rằng để khuyến sinh các chính sách phải mang tính đồng bộ, rộng hơn như làm tốt chính sách an sinh xã hội cho người cao tuổi, giải quyết bài toán điều trị cho các cặp vợ chồng vô sinh hiếm muộn, phát triển nhà trẻ, mẫu giáo đủ về số lượng và nâng cao chất lượng….

Bên cạnh chính sách hỗ trợ cho các gia đình trẻ, hỗ trợ tiền, nhà ở, chế độ làm việc, nghỉ thai sản, nhà trẻ, mẫu giáo… ông cho rằng không thể thiếu được giải pháp truyền thông.

Theo ông, cần tăng cường đối thoại với giới trẻ về những hệ lụy khi không sinh con hoặc chỉ sinh một con. Những lựa chọn này không chỉ tác động trực tiếp đến mỗi cá nhân, đặc biệt là khi về già, đối diện với nguy cơ cô đơn, thiếu chỗ dựa tinh thần và chăm sóc mà còn ảnh hưởng đến cấu trúc gia đình và sự phát triển bền vững của xã hội.

GS.Cử nhấn mạnh, công tác giáo dục, truyền thông cần giúp các cặp vợ chồng trẻ và thanh niên không chỉ nhìn vào những thuận lợi trước mắt, mà phải có tầm nhìn dài hạn 30 - 40 năm tới. Bởi không ai trẻ mãi, việc “lo cho tuổi già ngay từ khi còn trẻ” là một sự chuẩn bị cần thiết và có trách nhiệm.

Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý dân số

Tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, Quốc hội đã thông qua Luật Dân số, đánh dấu Việt Nam là quốc gia đầu tiên trên thế giới xây dựng và ban hành Luật này với nhiều chính sách ưu đãi để duy trì mức sinh thay thế.

Một trong những điểm nổi bật của Luật Dân số là hệ thống chính sách được xây dựng theo hướng toàn diện, bao quát đầy đủ các nội dung từ truyền thông, giáo dục, vận động về dân số; điều chỉnh quy mô dân số; cơ cấu dân số; thích ứng với già hóa dân số; đến nâng cao chất lượng dân số và bảo đảm các điều kiện thực hiện công tác dân số.

Luật Dân số có nhiều quy định mới, thể hiện rõ sự chuyển đổi tư duy trong công tác dân số. Trọng tâm chính sách được chuyển từ kế hoạch hóa gia đình sang phát triển, nâng cao chất lượng dân số; dân số và phát triển được lồng ghép trong mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Việt Nam trước “bẫy” dân số già - Bài cuối: Giải bài toán để tăng mức sinh, bảo đảm phát triển bền vững - Ảnh 3.

Luật Dân số nghiêm cấm lựa chọn và tiết lộ giới tính thai nhi, trừ trường hợp phục vụ chẩn đoán, điều trị theo quy định (Ảnh: Medlatech).

Đối với việc duy trì mức sinh thay thế, Luật đưa ra nhiều giải pháp hỗ trợ thiết thực như tăng thời gian nghỉ thai sản, hỗ trợ tài chính khi sinh con, bổ sung đối tượng được mua, thuê mua nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở; tạo điều kiện để chính quyền địa phương chủ động quy định mức hỗ trợ cao hơn mức do Chính phủ quy định, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương.

Luật cũng quy định chặt chẽ các biện pháp giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh, trong đó cấm lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức; cấm thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi, trừ trường hợp phục vụ chẩn đoán, điều trị bệnh theo quy định của Bộ Y tế; khuyến khích đưa nội dung không trọng nam hơn nữ vào hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư; tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.

Trong Luật Dân số, người dân được khuyến khích chủ động chuẩn bị cho tuổi già về sức khỏe, tài chính, tâm lý; tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; học tập nâng cao kiến thức, kỹ năng để duy trì sức khỏe thể chất và tinh thần. Luật cũng quy định phát triển đa dạng các hình thức chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng, gia đình và cơ sở chăm sóc; hỗ trợ đào tạo kỹ năng chăm sóc nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ.

Bên cạnh đó, Luật chú trọng nâng cao chất lượng dân số thông qua việc khuyến khích nam, nữ tiếp cận dịch vụ tư vấn và khám sức khỏe trước hôn nhân; khám sàng lọc trước sinh và sơ sinh; bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản không bị phân biệt đối xử; cấm nạo phá thai vì mục đích lựa chọn giới tính thai nhi.

Tham khảo thêm
Từ năm 2026-2030, tiến tới giảm ngưỡng mật độ dân số xuống tối thiểu 300 người/km2Việt Nam trước “bẫy” dân số già - Bài cuối: Giải bài toán để tăng mức sinh, bảo đảm phát triển bền vững - Ảnh 4.
Tham khảo thêm
Đến năm 2036, Việt Nam sẽ kết thúc thời kỳ dân số vàngViệt Nam trước “bẫy” dân số già - Bài cuối: Giải bài toán để tăng mức sinh, bảo đảm phát triển bền vững - Ảnh 5.

Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên khẳng định việc Quốc hội thông qua đạo luật về Dân số cho thấy sự quan tâm sâu sắc của Nhà nước đối với sức khỏe nhân dân, sự phát triển bền vững của dân số.

Luật Dân số được kỳ vọng sẽ tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý dân số với phạm vi điều chỉnh đầy đủ và phù hợp hơn với thực tiễn hiện nay góp phần bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe toàn dân trong giai đoạn mới.

Còn theo GS.Cử, việc ban hành Luật Dân số giúp nâng hiệu lực của Pháp lệnh Dân số năm 2003 lên một tầm cao hơn, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho chính sách dân số quốc gia.

Điểm mới của dự thảo Luật này là quyền quyết định số con và khoảng cách sinh con được trao cho các cặp vợ chồng, thay vì giới hạn mỗi cặp chỉ có một hoặc hai con như trước. Quy định này mở ra hành lang pháp lý mới cho quyền sinh sản, phù hợp với xu hướng phát triển xã hội hiện nay.

Cùng với đó, Luật Dân số cũng được kỳ vọng bảo đảm phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh Việt Nam đối mặt với mức sinh thấp, già hóa dân số nhanh và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân lực.

Mới đây, Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên đã chủ trì cuộc họp với Tổ soạn thảo và nhóm Biên tập xây dựng dự thảo Nghị định Quy định chi tiết một số Điều và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Dân số.

Tại cuộc họp, các đại biểu tập trung thảo luận sâu vào nhiều nội dung đã được chỉnh sửa, bổ sung so với dự thảo trước đó, trong đó tập trung vào một số nội dung: Quy định chi tiết khoản 2, Điều 14; khoản 5, Điều 18; điểm a, khoản 2, Điều 21; khoản 2, Điều 25 Luật Dân số và biện pháp tổ chức hướng dẫn thi hành Luật về kinh phí chăm sóc người cao tuổi tại nhà, tại cộng đồng, trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương trong công tác dân số.

Quy định cụ thể mức hỗ trợ tài chính khi sinh con là 2 triệu đồng/trường hợp; mức hỗ trợ gói dịch vụ khám sàng lọc một số bệnh bẩm sinh trước sinh và sơ sinh; Quy định hỗ trợ câu lạc bộ chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng; Tiêu chí xác định số lượng cộng tác viên, chế độ thù lao hằng tháng được hưởng hỗ trợ cho cộng tác viên dân số…

Hoàng Bích - Kim Thoa

Bạn đang đọc bài viết "Việt Nam trước “bẫy” dân số già - Bài cuối: Giải bài toán để tăng mức sinh, bảo đảm phát triển bền vững" tại chuyên mục Văn hóa - Giải trí. Mọi bài vở cộng tác xin gọi hotline (0987.245.378) hoặc gửi về địa chỉ email (info.vstarmedia2018@gmail.com).