Kinh tế tuần hoàn: Biến nước thải thành tài nguyên
Theo dõi KTMT trên
“Biến nước thải thành tài nguyên: giải pháp kinh tế tuần hoàn cho nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) - từ nước thải đến nguồn nước tưới bền vững” là một trong nhiều tham luận được quan tâm tại hội thảo về kinh tế tuần hoàn (KTTH) vừa diễn ra.
Nước thải sau xử lý đạt chuẩn sẽ là nguồn tài nguyên quý giá
Hội thảo do Viện Chiến lược Chính sách nông nghiệp và môi trường (ISPAE) thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam, Viện Chính sách Kinh tế Môi trường (EEPI) thuộc Hội Kinh tế môi trường Việt Nam phối hợp với Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) Việt Nam; Đại sứ quán Hà Lan tổ chức.
PGS.TS Nguyễn Thế Chinh và TS. Mai Thanh Dung đồng chủ trì hội thảo.Tham luận “Biến nước thải thành tài nguyên: giải pháp KTTH cho nông nghiệp ĐBSCL - từ nước thải đến nguồn nước tưới bền vững” được TS. Trần Thị Ngọc Bích, Giám đốc Trung tâm nước Stars Trường Đại học Trà Vinh trình bày.
TS. Trần Thị Ngọc Bích đặt vấn đề: thiếu nguồn nước sẽ là thách thức cho nông nghiệp của vùng ĐBSCL. Nguyên nhân chính của thiếu nước do biến đổi khí hậu gây ra các hiện tượng thời tiết cực đoan, thay đổi quy luật tự nhiên; hạn hán khốc liệt, nắng nóng kéo dài, lượng mưa giảm sút làm khô cạn kênh, rạch; xâm nhập mặn sâu, nước biển lấn sâu vào nội đồng do thiếu lực đẩy từ dòng nước ngọt; thiếu hụt nước ngọt, suy giảm lưu lượng dòng chảy từ thượng nguồn (sông Mekong).
TS. Trần Thị Ngọc Bích, Giám đốc Trung tâm nước Stars Trường Đại học Trà Vinh trình bày tham luận.Biến đổi khí hậu đã tác động trực tiếp ngành nông nghiệp. Cụ thể, ngành lúa gạo thiếu nước tưới tiêu, làm chết hoặc giảm năng suất lúa; đối với cây ăn trái do cạn kiệt nguồn nước ngọt duy trì các vườn cây đặc sản khiến rụng trái hoặc chết cây; đối với ngành thủy sản do thay đổi độ mặn và chất lượng nước đã phá vỡ môi trường nuôi trồng thủy sản.
Cũng từ biến đổi khí hậu gây ra hậu quả dài hạn là sinh kế người dân gặp khó khăn, thu nhập bấp bênh, gia tăng rùi ro kinh tế cho các hộ nông dân; đời sống sinh hoạt bị ảnh hưởng do thiếu hụt trầm trọng nguồn nước ngọt an toàn cho sinh hoạt. Từ đó cản trở mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đe dọa an ninh lương thực quốc gia và khu vực khiến không thể phát triển bền vững.
Đại biểu dự hội thảo KTTH.Mặc dù vùng ĐBSCL chằng chịt sông nước, nhưng TS. Trần Thị Ngọc Bích đưa ra nghịch lý về tài nguyên nước. Theo đó, ĐBSCL đang đối mặt với xâm nhập mặn, hạn hán và thiếu nước ngọt nghiêm trọng. Trong khi nông nghiệp khát nước, lượng lớn nước thải công nghiệp đã qua xử lý lại bị xả bỏ ra môi trường. Một khu công nghiệp (KCN) quy mô trung bình thải ra khoảng 5000 m3 nước thải đã qua xử lý mỗi ngày. Với nhu cầu tưới trung bình khoảng 40m3/ha/ngày (tưới phun hoặc nhỏ giọt cho cây ăn trái), lượng nước này có thể cung cấp cho 125 ha vườn cây ăn trái (sầu riêng, bưởi). Do đó, nước thải sau xử lý đạt chuẩn sẽ không còn là chất thải, mà là nguồn tài nguyên quý giá có thể tái sử dụng (TSD) cho nông nghiệp.
Mô hình KTTH nước đem lại lợi ích kép
“Tại khoản 2 điều 72 Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) 2020 yêu cầu chung về quản lý nước thải quy định như sau: nước thải được khuyến khích TSD khi đáp ứng yêu cầu BVMT và mục đích sử dụng nước. Còn tại Quyết định 222/QĐ-TTg kế hoạch hành động quốc gia về KTTH đến năm 2035, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các dự án TSD nước thải. Và Nhà nước cũng có chính sách hỗ trợ lãi suất 2% cho doanh nghiệp nào đầu tư công nghệ xử lý và TSD nước. Cùng với đó, tại khung ESG mới cũng quy định xác định dự án xanh, dự án tuần hoàn giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận nguồn vốn ưu đãi và nâng cao uy tín. Việc TSD nước thải cho nông nghiệp giúp tiết kiệm nước ngọt, cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, giảm chi phí phân bón, và bảo vệ môi trường, biến chất thải thành tài nguyên trong nền KTTH”, TS. Trần Thị Ngọc Bích chia sẻ.
Đại biểu lắng nghe các diễn giả trình bày tham luận.Từ những phân tích ở trên, TS. Trần Thị Ngọc Bích đưa ra mô hình KTTH nước gồm các bước: nước thải từ KCN được thu gom tập trung qua hệ thống đường ống đến trạm xử lý; sau đó áp dụng công nghệ xử lý tiên tiến đảm bảo nước đầu ra đạt chuẩn QCVN 08:2023/BTNMT cho TSD; nước thải sau khi xử lý được dùng để tưới cây, rửa đường, làm mát máy móc trong KCN; hoặc cung cấp nguồn nước đã xử lý đạt chuẩn cho vùng nông nghiệp lân cận chịu hạn mặn ĐBSCL.
Với mô hình KTTH nước sẽ cho lợi ích kép, đó là doanh nghiệp xanh hơn, giảm gánh nặng xả thải, tiết kiệm chi phí xử lý và doanh nghiệp được nâng cao điểm ESG. Còn nông dân có nguồn nước tưới ổn định, không lo thiếu nước mùa hạn mặn, năng suất tăng cao.
Mô hình KTTH nước sẽ cho lợi ích kép.TS. Trần Thị Ngọc Bích dẫn chứng Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 đã xác định rõ: phát triển kinh tế biển gắn với kinh tế xanh, KTTH và kinh tế số là trụ cột quan trọng, góp phần dưa Vĩnh Long trở thành trung tâm tăng trưởng mới của ĐBSCL. Đối với nông nghiệp và môi trường, tỉnh cũng đề ra kế hoạch hành động triển khai đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025 – 2035, tầm nhìn đến 2050”.
Địa phương này cũng đưa ra định hướng và những chính sách trọng tâm. Cụ thể, quản lý và TSD nước thải tập trung với mục tiêu đề ra chu trình nước khép kín, từ xử lý để xả thải đến xử lý để TSD. Về xử lý nước thải công nghiệp và đô thị, mục tiêu đến năm 2030 thu gom 100% và cộng sinh công nghiệp (TSD chéo); đối với hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt, phấn đấu đạt hoặc lớn hơn 50% ở đô thị loại II và 20% ở đô thị loại IV.
Mô hình KTTH nước là cơ hội sinh lời
Cùng với đó là chính sách KTTH trong nông nghiệp với định hướng nông nghiệp là trụ đỡ, hỗ trợ tái chế phụ phẩm, nước thải thông qua các mô hình: TSD nước chăn nuôi, thu gom đạt 80% hoặc nhiều hơn; sử dụng biogas tưới cây ăn trái và giảm phân hóa học. Đối với mô hình trồng lúa và nuôi thủy sản thì dùng nước ao nuôi ruộng lúa, tận dụng dinh dưỡng hữu cơ và tiết kiệm nước trong mùa khô. Còn mô hình nông nghiệp phát thải thấp dựa vào đề án “1 triệu ha lúa chất lượng cao”, dùng kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ.
Mô hình KTTH nước.Để thực hiện tốt việc quản lý và thực hiện hiệu quả các mô hình, sẽ sử dụng giải pháp công nghệ và giám sát thông qua quan trắc tự động (100% cơ sở lớn lắp đặt; kiểm soát chất lượng; an toàn cây trồng và đất). Đồng thời, khuyến khích công nghệ xanh, ưu tiên các dự án công nghệ sạch, tiêu hao ít năng lượng và nước, sản xuất tuần hoàn tại nguồn.
Và để biến nước thải thành nguồn tài nguyên, chính quyền giữ vai trò “nhạc trưởng” kết nối KCN với nông dân, tạo cầu nối cung cấp nước TSD. Giám sát chất lượng kiểm soát nghiêm ngặt chất lượng nước TSD theo QCVN, đảm bảo an toàn cho sản xuất nông nghiệp. Đồng thời, đơn giản hóa thủ tục cải cách hành chính, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn ưu đãi 2% và các chính sách khuyến khích đầu tư xanh.
Trong dự án chuyển đổi xử lý nước thải thành tài nguyên tại ĐBSCL, thì Chính phủ và chính quyền đóng vai trò kiến tạo tiêu chuẩn về nước tái chế, ưu đãi thuế cho dự án hạ tầng xanh. Các doanh nghiệp áp dụng công nghệ lọc để thu hồi dinh dưỡng (nitơ, phốt pho) từ nước thải công nghiệp/thủy sản; sản xuất phân bón/phục vụ dây chuyền sản xuất và lúc này sẽ giảm được chi phí đầu vào. Còn đối với nông dân, chương trình này giúp họ thích ứng xâm nhập mặn và thiếu nước ngọt, là người thụ hưởng và vận hành trực tiếp.
“KTTH nước không chỉ là trách nhiệm môi trường mà còn là cơ hội sinh lời. Sự phối hợp chặt chẽ giữa Chính phủ - Chính quyền - Doanh nghiệp - Nông dân sẽ tạo nên hệ sinh thái bền vững, biến nước thải thành tài nguyên quý giá cho ĐBSCL”, TS. Trần Thị Ngọc Bích kết luận.
Tân Tiến