Phụ lục IV Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 quy định 198 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Nghị quyết 66.17/2026/NQ-CP quy định việc cắt giảm, sửa đổi ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện quy định tại Phụ lục IV của Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 .
Cắt giảm, sửa đổi những ngành, nghề mà điều kiện đầu tư kinh doanh không rõ ràng, có tính chất tương tự nhau
Việc cắt giảm, sửa đổi ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được thực hiện theo các nguyên tắc sau:
Cắt giảm những ngành, nghề không thật sự cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 7 của Luật Đầu tư.
Cắt giảm những ngành, nghề mà điều kiện đầu tư kinh doanh có thể nghiên cứu quản lý thông qua tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn nghề để quản lý theo phương thức hậu kiểm.
Cắt giảm, sửa đổi những ngành, nghề mà điều kiện đầu tư kinh doanh không rõ ràng hoặc có tính chất tương tự nhau, đã được kiểm soát thông qua hoạt động quản lý khác hoặc những ngành, nghề mà từ khi được quy định cho đến nay vẫn chưa ban hành được điều kiện đầu tư kinh doanh hoặc đã không còn quy định điều kiện đầu tư kinh doanh.
Ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật đối với những ngành, nghề được cắt giảm; xây dựng quy trình, thủ tục để quản lý theo phương thức hậu kiểm trước ngày 01/7/2026
Nghị quyết 66.17/2026/NQ-CP ban hành Danh mục 142 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện gồm: kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm, vàng, xăng dầu, vận tải hàng không, bất động sản, dịch vụ viễn thông, dịch vụ khám chữa bệnh, hoạt động giáo dục đại học, phổ thông và mầm non; kinh doanh dịch vụ viễn thông và mạng xã hội; hành nghề luật sư, công chứng và giám định tư pháp…
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có trách nhiệm nghiên cứu, quy định giải pháp, phương án quản lý thay thế đối với các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được bãi bỏ, sửa đổi tại Nghị quyết này, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước.
Chính phủ giao Bộ Tài chính chịu trách nhiệm rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung Phụ lục IV của Luật Đầu tư để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ.
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn nghề đối với những ngành, nghề được cắt giảm tại Nghị quyết này (trong trường hợp cần thiết), từ đó xây dựng quy trình, thủ tục để quản lý theo phương thức hậu kiểm trước ngày 01/7/2026. Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm phối hợp với các bộ, ngành để ban hành các quy chuẩn kỹ thuật, đảm bảo có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của Nghị quyết này.
Việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật quy định tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn nghề trong trường hợp này được thực hiện theo trình tự, thủ tục rút gọn.
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị quyết này bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả, khả thi; không để sơ hở, tham nhũng, tiêu cực, thất thoát, lãng phí.
Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức, người tham gia xây dựng, ban hành Nghị quyết này được xem xét loại trừ, miễn hoặc giảm trách nhiệm theo quy định tại khoản 7 Điều 6 Nghị quyết số 206/2025/QH15.
Đối với các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện quy định tại Luật Đầu tư đã được cắt giảm theo quy định của Nghị quyết này, tổ chức, cá nhân được tiếp tục sử dụng các loại giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ, văn bản xác nhận hoặc hình thức văn bản cho phép đầu tư, kinh doanh khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp đến hết thời hạn của văn bản, giấy tờ đó.
Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026 đến hết ngày 28/02/2027
Trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị quyết của Chính phủ có quy định về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện liên quan đến quy định tại Nghị quyết này được thông qua hoặc ban hành và thời điểm có hiệu lực trong khoảng thời gian từ ngày Nghị quyết này được ký ban hành đến hết ngày 28/02/2027 thì các quy định tương ứng trong Nghị quyết này hết hiệu lực kể từ thời điểm các văn bản quy phạm pháp luật đó có hiệu lực.
Trong thời gian quy định của Nghị quyết này có hiệu lực thi hành, nếu quy định về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện tại Nghị quyết này khác với các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan thì thực hiện theo quy định của Nghị quyết này.
Ngày 29/4/2026, Chính phủ ban hành 8 Nghị quyết về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường (Nghị quyết số 17/2026/NQ-CP), Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Nghị quyết số 18/2026/NQ-CP), Bộ Công Thương (Nghị quyết số 19/2026/NQ-CP), Bộ Khoa học và Công nghệ (Nghị quyết số 20/2026/NQ-CP), Bộ Y tế (Nghị quyết số 21/2026/NQ-CP), Bộ Công an (Nghị quyết số 22/2026/NQ-CP), Bộ Giáo dục và Đào tạo (Nghị quyết số 23/2026/NQ-CP) và một Nghị quyết chung do Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng, áp dụng cho lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng (Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP).
Theo đó, sửa đổi, bổ sung đồng bộ 163 văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm: 02 Nghị quyết của Chính phủ, 155 Nghị định và 06 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Với việc ban hành các văn bản này, 4 chỉ tiêu cốt lõi theo Kết luận số 18-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã được hoàn thành. Đối với thủ tục hành chính, 184 thủ tục bị bãi bỏ, 134 thủ tục được phân cấp giải quyết xuống địa phương và 349 thủ tục được đơn giản hóa, đưa quy mô thủ tục hành chính cấp Trung ương về mức 27%. Đối với điều kiện kinh doanh, 890 điều kiện bị bãi bỏ và 04 điều kiện được đơn giản hóa.
Quá trình thực thi dự kiến sẽ giảm hơn 50% thời gian thực hiện và chi phí tuân thủ cho đối tượng chịu tác động so với năm 2024; thể hiện quyết tâm chính trị cao nhất của Chính phủ trong việc xây dựng một nền hành chính phục vụ, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm./.