Hội thề Lũng Nhai - dấu tích nghĩa quân Lam Sơn trên đỉnh Pù Mé

20/02/2026 09:00

Trên đỉnh núi Pù Mé (Thanh Hóa), dấu tích Hội thề Lũng Nhai vẫn lặng lẽ tồn tại. Hơn 600 năm trước, từ lời thề cắt máu ăn thề ở vùng sơn cước này, ngọn lửa khởi nghĩa Lam Sơn đã được thắp lên, làm đổi thay vận mệnh dân tộc.

Lời thề máu trên đỉnh Pù Mé

Những ngày cuối năm, con đường bê tông dẫn lên sườn núi Pù Mé, xã Thường Xuân (Thanh Hóa) đưa chúng tôi đến di tích Hội thề Lũng Nhai - khởi nguồn của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn hơn 600 năm trước. Mây bảng lảng ôm lấy những triền rừng, gió lạnh hun hút thổi qua đỉnh núi cao gần 1.000m so với mực nước biển, không gian vắng lặng nhưng đầy vẻ thâm nghiêm.

Người dẫn đường là cụ Lê Đức Tiến, 76 tuổi, dáng người rắn rỏi, đã gắn bó với di tích này gần chục năm nay. Cụ bảo, ngày thường núi vắng, chỉ đông người vào dịp lễ Tết và ngày giỗ hội 21-22/8 âm lịch. "Cả năm tôi trông coi, hương khói cũng chỉ mong di tích có một ngày được đầu tư, phát huy, thành điểm đến để nhiều người biết đến", cụ nói, tay chỉ về ngôi am thờ đơn sơ.

Hội thề Lũng Nhai - dấu tích nghĩa quân Lam Sơn trên đỉnh Pù Mé- Ảnh 1.

Điện thờ tại di tích Hội thề Lũng Nhai.

Không có đền đài đồ sộ, không bia đá rêu phong, di tích Hội thề Lũng Nhai hôm nay chỉ là một không gian nhỏ nép mình giữa đại ngàn. Có một phiến đá lớn trên đỉnh núi này được cho là nơi Lê Lợi và các nghĩa sĩ thường ngồi để quan sát mọi động tĩnh của quân giặc. Từ vị trí ấy, phóng tầm mắt ra xa là cả vùng Lam Kinh, sông Chu, sông Âm uốn lượn dưới thung lũng. Một thế đất "tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ", đủ kín đáo để ẩn mình, đủ cao để quan sát tình hình.

Theo sử sách biên lại, đầu thế kỷ XV, sau khi nhà Minh thôn tính Đại Ngu, đất nước chìm trong cảnh đô hộ tàn khốc. Các cuộc khởi nghĩa nổ ra liên tiếp nhưng nhanh chóng bị dập tắt. Lực lượng yêu nước tan rã, nhiều hào kiệt bị sát hại hoặc truy bức.

Trong bối cảnh ấy, đầu tháng 3 năm Bính Thân (1416), Lê Lợi cùng 18 người thân tín nhất lặng lẽ tìm đến vùng Lũng Nhai – khi ấy là làng Mé, nằm dưới chân núi Pù Mé. Tại đồi Bái Tranh, họ dâng lễ tế cáo trời đất, cắt máu ăn thề, kết nghĩa huynh đệ, nguyện sống chết có nhau vì đại nghĩa đánh đuổi giặc Minh.

Hội thề Lũng Nhai - dấu tích nghĩa quân Lam Sơn trên đỉnh Pù Mé- Ảnh 2.

Cụ Lê Đức Tiến là người trông coi hương khói tại đền.

Sử sách chép lại lời thề giản dị mà quyết liệt: tuy khác họ hàng, quê quán, nhưng nguyện coi nhau như ruột thịt, phận vinh hiển cùng chia, lúc nguy nan cùng gánh, không ai được phản bội lời thề son sắt. Đó không chỉ là lời cam kết của 19 con người, mà là sự kết tinh ý chí của một dân tộc bị dồn đến bước đường cùng: thà chết chứ không chịu làm nô lệ.

Từ lời thề ấy, ngọn lửa Lam Sơn được nhóm lên. Hai năm sau, cuộc khởi nghĩa chính thức bùng nổ, lan rộng khắp vùng rừng núi Thanh – Nghệ, để rồi kết thúc bằng chiến thắng năm 1427, chấm dứt ách đô hộ nhà Minh, mở ra triều đại Hậu Lê.

Giá trị lịch sử - văn hóa chờ được phát huy

Theo PGS.TS Lê Đình Sỹ (Viện Lịch sử Quân sự), Lũng Nhai là vị trí hội đủ các yếu tố quân sự đặc biệt: nằm sâu trong rừng, kín đáo, nhưng từ đây có thể kiểm soát cả một vùng rộng lớn, lại gần căn cứ Lam Sơn. "Rất có thể núi Pù Mé, làng Mé xưa đã được Lê Lợi lựa chọn có chủ ý cho sự kiện mang tính quyết định này", ông nhận định.

Không chỉ trong sử sách, vùng đất quanh núi Pù Mé còn lưu giữ nhiều ký ức dân gian về những năm tháng khởi nghĩa Lam Sơn. Người làng Mé kể rằng, trước khi người Mường đến lập bản, nơi đây từng là địa bàn hoạt động của nghĩa quân. Trên đỉnh núi còn truyền lại câu chuyện về phiến đá làm bàn tế, nơi Lê Lợi và các nghĩa sĩ cắt máu ăn thề.

Hội thề Lũng Nhai - dấu tích nghĩa quân Lam Sơn trên đỉnh Pù Mé- Ảnh 3.

Từ phiến đá trên núi nhìn ra xa, có thể quan sát được mọi động tĩnh xung quanh.

Dưới chân Pù Mé, người dân từng đào được một chiếc ly đồng, được cho là vật chứa máu thề của hội Lũng Nhai. Cách đó khoảng 800 m là khu mộ cổ rộng hơn 11.000m², những phiến đá xếp dọc, không bia mộ, được truyền tụng là nơi an táng nghĩa quân Lam Sơn hy sinh. Những địa danh như Phụng Dưỡng, Hòn Mài Mực, suối Khao… đến nay vẫn hiện diện, như dấu vết ký ức gắn với một thời lịch sử đã lùi xa.

Năm 2013, một hội thảo khoa học lớn về Hội thề Lũng Nhai được tổ chức tại Thường Xuân, quy tụ nhiều nhà sử học, văn hóa. Các ý kiến thống nhất khẳng định: Hội thề Lũng Nhai là mốc mở đầu quan trọng, đặt nền móng tổ chức lực lượng, hình thành bộ tham mưu đầu tiên của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

Cuối năm đó, di tích Hội thề Lũng Nhai được công nhận là di tích lịch sử cấp tỉnh.

Đại diện UBND xã Thường Xuân cho biết, năm 2024, tỉnh Thanh Hóa hiện đã phê duyệt quy hoạch bảo tồn, tôn tạo di tích và các điểm liên quan trên diện tích hơn 73 ha, gắn với phát triển du lịch lịch sử – sinh thái – cộng đồng trong những năm tới. Tuy nhiên, do chưa có kinh phí nên địa phương cũng chưa có khả năng để đầu tư, xây dựng phát huy di tích lịch sử này.

Trên núi Pù Mé, gió vẫn thổi hun hút qua đỉnh đồi. Ngôi am thờ nhỏ bé lặng lẽ giữa đại ngàn, như chứng nhân của một lời thề sinh tử đã làm thay đổi vận mệnh đất nước. Hơn sáu thế kỷ trôi qua, Hội thề Lũng Nhai không chỉ còn trong sách sử, mà vẫn hiện diện trong từng nếp núi, dòng suối, trong ký ức của người dân miền sơn cước – nơi khởi nguồn cho một mùa độc lập dài lâu của dân tộc.

Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418–1427) là cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược do Lê Lợi lãnh đạo, kết thúc bằng thắng lợi hoàn toàn, khôi phục nền độc lập cho Đại Việt. Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu Lê Thái Tổ, mở ra triều đại Hậu Lê – một trong những vương triều hưng thịnh bậc nhất trong lịch sử dân tộc.


Bạn đang đọc bài viết "Hội thề Lũng Nhai - dấu tích nghĩa quân Lam Sơn trên đỉnh Pù Mé" tại chuyên mục Văn hóa - Giải trí. Mọi bài vở cộng tác xin gọi hotline (0987.245.378) hoặc gửi về địa chỉ email (info.vstarmedia2018@gmail.com).