
Tổng bí thư Liên Xô Leonid Brezhnev ôm hôn Tổng thống Mỹ Jimmy Carter ở Hội nghị thượng đỉnh Vienna năm 1979 - Ảnh: state.gov
Từ học thuyết Nixon đến học thuyết Carter
Vào giữa năm 1969 đã thấm đòn ở cuộc chiến tranh Việt Nam, chính quyền Nixon tuyên bố tương lai Mỹ sẽ kiềm chế không gửi quân đội ra nước ngoài nữa, mà thay vào đó sẽ cung cấp cho đồng minh "sự hỗ trợ để giúp họ tự giải quyết các vấn đề của chính mình". Học thuyết Nixon ra đời với mục tiêu nước Mỹ tránh được những Việt Nam tương lai.
Tuy có nguồn gốc từ chiến lược Việt Nam, học thuyết này cũng đã tác động sâu sắc đến chính sách Mỹ tại Trung Đông.
Đầu năm 1968, Anh thông báo rút các lực lượng quân sự còn lại của họ khỏi vịnh Ba Tư cuối năm 1971. Mỹ giờ chỉ còn đồng minh Iran để bảo vệ tuyến hàng hải huyết mạch này.
Phớt lờ cảnh báo từ phái bộ quân sự Mỹ tại Iran, trong cuộc cạnh tranh khốc liệt với Liên Xô kỷ nguyên Chiến tranh lạnh, chính quyền Nixon giữa năm 1972 quyết định trao cho vua Shah Iran "tấm séc khống" để mua bất kỳ hệ thống vũ khí nào của Mỹ, chỉ trừ vũ khí hạt nhân.
Iran và Saudi Arabia trở thành hai trụ cột sống còn của Mỹ ở Trung Đông, khi năng lượng trở thành nỗi ám ảnh lớn nhất trong chính sách của Washington suốt những năm 1970 và 1980. Trong cuộc khủng hoảng dầu mỏ 1973 - 1974, Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) đã cắt giảm sản lượng mạnh, dẫn đến giá dầu tăng gấp 4 lần.
Tiếp đó, đối mặt cuộc cách mạng Hồi giáo ở Iran, sự kiện Liên Xô can thiệp quân sự vào Afghanistan (đều vào năm 1979), và tình trạng phụ thuộc ngày càng tăng của Mỹ vào dầu nhập khẩu, chính quyền Carter đã kết luận "Mỹ có những lợi ích sống còn ở khu vực Trung Đông, và Liên Xô trong so sánh tương quan thì không như vậy".
Để bảo vệ những lợi ích đó, Mỹ phải cải thiện "khả năng huy động quân sự nhanh chóng" và thiết lập sự hiện diện quân sự thường trực trong khu vực.
Ở Trung Đông, mục tiêu của Washington sẽ không phải là cân bằng quân sự với Liên Xô, mà là "một ưu thế quân sự rõ rệt". Triết thuyết của Carter, do đó chính là khởi nguồn cho hệ thống căn cứ quân sự dày đặc mà Mỹ đã kỳ công thiết lập qua nửa thế kỷ khắp khu vực quanh vịnh Ba Tư.
Ở Hội nghị thượng đỉnh Vienna tháng 6-1979, Carter nói với nhà lãnh đạo Liên Xô Leonid Brezhnev rằng một số khu vực trên thế giới như vịnh Ba Tư và bán đảo Ả Rập là nơi Mỹ và các đồng minh có "lợi ích sống còn tuyệt đối".
Ở những khu vực như vậy, điều thiết yếu là Liên Xô phải kiềm chế không đe dọa đến lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ.
Brezhnev đáp lại rằng Carter đừng đổ lỗi cho Liên Xô về những thay đổi đang diễn ra trên thế giới và phủ nhận cáo buộc Liên Xô đang tìm cách kiểm soát các quốc gia trong "cái gọi là khủng hoảng từ phía cung" (một khái niệm kinh tế thị trường không có chỗ đứng trong nền kinh tế kế hoạch hóa của Liên Xô). Ông cũng phản bác rằng toàn bộ học thuyết Carter chỉ là "một câu chuyện cổ tích".

Lính Mỹ trên xe tăng T-55 (do Liên Xô sản xuất) của Iraq trên cánh đồng dầu Kuwait đầu năm 1991 - Ảnh: Reddit
Liên Xô mạnh nhờ dầu và khó vì dầu
Brezhnev cũng phàn nàn về cách thức tùy tiện mà Mỹ tuyên bố những ngóc ngách xa xôi trên thế giới là lợi ích sống còn của họ. Tuy nhiên, nếu nhìn vào diễn biến sau đó của cuộc Chiến tranh lạnh, lý lẽ Washington không phải là vô căn cứ.
Ở Liên Xô, thống kê ghi nhận sự sụt giảm sản lượng dầu diễn ra trước sự sụt giảm GDP. Một số học giả như Douglas B. Reynolds, thậm chí lập luận rằng Liên Xô tan rã không phải do cuộc chạy đua vũ trang trong Chiến tranh lạnh với chính quyền Reagan hay do quản lý kinh tế yếu kém, mà chính là bởi một cuộc khủng hoảng dầu mỏ.
Khi sản lượng dầu đạt đỉnh vào nửa sau những năm 1980 và chỉ có suy giảm kể từ đó, Liên Xô mất đi nguồn lực then chốt để duy trì hoạt động kinh tế và quân sự của một siêu cường. Riêng những con số đã đủ sức thuyết phục.
Sản lượng dầu của Liên Xô giảm tới 50% trong khoảng từ năm 1988 - 1995, từ 12 triệu xuống còn 7 triệu thùng/ngày. (Dưới thời ông Putin, sản lượng đã quay trở lại mức 10 triệu thùng). Khi dầu cạn kiệt, sự ổn định quốc gia cũng biến mất.
Như nhận định của kinh tế gia thời Liên Xô và thủ tướng Nga sau này Yegor Gaidar vào năm 2007: Sự sụp đổ của Liên Xô "[là] một bài học cho những ai xây dựng chính sách dựa trên giả định giá dầu sẽ duy trì ở mức cao vĩnh viễn".
Tất nhiên, câu chuyện về những thăng trầm của quốc gia gắn với dầu mỏ ở Nga, và Liên Xô dài hơn thế nhiều. Giống như Mỹ, Nga là quốc gia tiên phong về dầu mỏ toàn cầu trong thế kỷ 19.
Khi mà các doanh nhân Mỹ như John D. Rockefeller biến vàng đen của Pennsylvania thành vàng thật vào những năm 1870, anh em nhà Nobel người Thụy Điển (chính là dòng họ Nobel nổi tiếng với các giải thưởng cho khoa học) cũng bắt đầu cắm những chiếc vòi hút xuống các cánh đồng dầu ở Baku thuộc Azerbaijan.
Nhưng Liên Xô chỉ thực sự trở thành siêu cường dầu mỏ từ sau Thế chiến 2, khi nền kinh tế hậu chiến tăng tốc để chế tạo xe hơi, máy kéo, máy bay phản lực MIG và những thành phố mênh mông trên nền tảng dầu mỏ.
Liên Xô cũng đầu tư nguồn năng lượng dư thừa vào giáo dục, khoa học, y tế, các chương trình không gian, và cả một tổ hợp công nghiệp - quân sự khổng lồ.
Dầu mỏ đồng thời là nền tảng cho chính sách đối ngoại. Dầu giá rẻ giúp Matxcơva duy trì hệ thống liên minh ở Đông Âu và trên toàn thế giới, đồng thời chi trả cho nhiều mặt hàng tiêu dùng nhập khẩu, bao gồm cả ngũ cốc thiết yếu.
Nguồn dầu mỏ dồi dào đã giúp Liên Xô vượt qua hai cú sốc giá dầu toàn cầu vào năm 1973 và 1981 không hề hấn gì, trong khi hầu hết phương Tây (bao gồm cả Mỹ) rơi vào suy thoái, nợ nần và phụ thuộc ngày càng nhiều vào dầu mỏ nước ngoài.
Nhưng giá dầu tăng vọt đồng thời cũng là một lời nguyền. Liên Xô bắt đầu chi tiêu thái quá, bán dầu để xây dựng thêm cơ sở hạ tầng tiêu thụ dầu, và lãng phí một lượng khổng lồ dầu mỏ, nhân lực và đồng rúp trong nỗ lực vô vọng ở Afghanistan.
Trợ cấp cho nhu cầu năng lượng của các nước đồng minh Triều Tiên, Đông Âu và Cuba là một yếu tố khác phải nói đến. Những năm 1980, dân châu Âu thuộc đủ mọi thành phần đổ xô đến Đông Berlin để đón những chuyến bay rẻ nhất đến Ấn Độ, tất cả nhờ trợ cấp nhiên liệu từ Liên Xô.
Giữa những năm 1980, sản lượng dầu của Liên Xô đạt đỉnh ở mức 12 triệu thùng/ngày. Sau đó, sản lượng dầu bắt đầu giảm.
Thêm một đòn đau nữa giáng xuống khi vào năm 1985, Saudi Arabia quyết định tăng mạnh sản lượng để giành lại vị thế trên thị trường thế giới.
Thay vì bán dầu với giá cố định, giá cả giờ sẽ dựa trên giá sản phẩm tinh chế trên thị trường, trừ đi biên lợi nhuận cố định cho hãng lọc dầu. Hệ thống mới này ưu tiên khối lượng hơn giá cả, và dẫn đến sự sụp đổ của giá dầu thế giới vào năm 1986.
Khi nguồn thu ngoại tệ mạnh tiêu tan, kế hoạch cải cách của Chính phủ Liên Xô mới dưới quyền Mikhail Gorbachev (nắm quyền từ tháng 3-1985) đi vào ngõ cụt. Gorbachev đã hy vọng sử dụng nguồn thu từ dầu mỏ để tài trợ cho quá trình hiện đại hóa công nghiệp và cải thiện mức sống, nhưng ông đã không thể tìm ra nguồn lực...
Ngay từ năm 1835, nhà tư tưởng lớn người Pháp Alexis de Tocqueville đã viết: "Một ngày nào đó, Nga và Mỹ theo một thiết kế bí mật của Thiên ý, sẽ nắm giữ trong tay họ mỗi bên một nửa vận mệnh của thế giới".
Những lời này có ý nghĩa tiên tri ở chỗ "thiết kế bí mật của Thiên ý" đó chính là vận may đặc biệt về dầu mỏ của hai siêu cường.
*****************
Vì sao Nga đã vũ khí hóa khí đốt hiệu quả hơn dầu mỏ trong cuộc đối đầu với châu Âu vì chiến tranh ở Ukraine?
>> Kỳ 5: Khí đốt - vũ khí và mục tiêu