
Hoạt động tại một tổ dân phố ở Hà Nội - Ảnh: G.H.
Dự thảo quy định cụ thể tiêu chí quy mô số hộ gia đình đối với thôn, tổ dân phố theo từng vùng, miền khác nhau.
Số thôn/1 xã tăng gấp 3 lần
Theo số liệu của Bộ Nội vụ, việc sắp xếp thôn, tổ dân phố thời gian qua đã đạt kết quả quan trọng, giảm từ 136.824 đơn vị năm 2015 xuống còn 89.574 năm 2025 (giảm 47.250 thôn, tổ dân phố, tương đương 34,53%).
Tuy nhiên vẫn còn nhiều thôn, tổ dân phố chưa bảo đảm tiêu chí về quy mô số hộ gia đình theo quy định hiện hành và không đồng đều giữa các vùng, miền. Nhiều thôn dưới 150 hộ, cụ thể khoảng 21.199 thôn, tập trung tại khu vực miền núi phía Bắc, trong khi tại Hà Nội, TP.HCM có nhiều tổ dân phố có quy mô lớn (trên 1.000 hộ).
Sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị cấp tỉnh, cấp xã năm 2025, bình quân số thôn, tổ dân phố trên mỗi đơn vị cấp xã tăng nhiều, từ khoảng 9 thôn, tổ dân phố/1 cấp xã lên khoảng 27 thôn, tổ dân phố/1 cấp xã (gấp 3 lần).
Bộ Nội vụ cho rằng việc này làm tăng số lượng đầu mối, tạo áp lực quản lý lớn với chính quyền cấp xã, đồng thời quy định hiện hành chưa được điều chỉnh phù hợp với thực tiễn hiện nay.

Sáp nhập thôn, tổ dân phố là tất yếu
Trao đổi với Tuổi Trẻ, TS Nguyễn Tiến Dĩnh - nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ - cho rằng sau khi thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, nhất là cấp xã đã được sáp nhập lại, nếu để thôn, tổ dân phố manh mún quá sẽ khó cho quản lý, cồng kềnh bộ máy. Do vậy việc sáp nhập thôn, tổ dân phố là tất yếu.
Với 89.574 thôn, tổ dân phố trên cả nước hiện nay, ông cho rằng sau sáp nhập cần giảm mạnh để bảo đảm tinh gọn bộ máy, thuận lợi cho công tác quản lý ở cơ sở. Từ đó ông đề xuất nên giảm số thôn, tổ dân phố còn khoảng 1/3 so với hiện nay.
"Cả nước sẽ còn khoảng 30.000 thôn, tổ dân phố. Đây là con số phù hợp, đảm bảo tinh gọn, thuận lợi cho quản lý", ông Dĩnh nói.
Trong khi đó, ông Bùi Hoài Sơn - đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội - cho rằng việc sắp xếp thôn, tổ dân phố là bước đi cần thiết trong tiến trình tiếp tục tinh gọn bộ máy. Nhưng với Việt Nam, mỗi thôn, làng không chỉ là một đầu mối quản lý. Đó còn là một lớp trầm tích văn hóa, một vùng ký ức, một nếp sống, một mái đình, một phiên chợ...
Vì thế, điều người dân mong đợi không chỉ là sắp xếp cho gọn hơn mà còn giữ được tên làng, giữ được hồn xóm, giữ được bản sắc của những cộng đồng đã bồi đắp nên gương mặt văn hóa Việt Nam suốt bao đời.
Một trong những điểm cần được chú ý đặc biệt là việc đặt tên sau sáp nhập. Tên gọi không chỉ phục vụ quản lý hành chính. Tên gọi còn là bộ nhớ của cộng đồng.
Một cái tên có thể gợi ra cả một vùng lịch sử, một nghề truyền thống, một dòng sông, một ngôi chùa, một ngọn núi, một vị thành hoàng, một chiến công, một nếp sống. Nếu đặt tên hời hợt, ghép cơ học hay chỉ đánh số cho tiện, chúng ta có thể làm cho một không gian văn hóa trở nên vô danh.
Tên mới cần phù hợp với đặc trưng văn hóa địa phương, phản ánh được biểu tượng tiêu biểu nhất của vùng đất ấy, có thể là tên làng cổ, tên nghề, tên di tích, tên dòng sông, tên núi, tên nhân vật lịch sử hay một biểu tượng đã được cộng đồng chấp nhận từ lâu.
Và quan trọng hơn cả, việc lựa chọn tên phải có sự tham gia thực chất của người dân, bởi chính họ là những người sẽ sống với cái tên đó, gọi cái tên đó mỗi ngày, truyền cái tên đó cho con cháu.
Đảm bảo phù hợp truyền thống, đoàn kết, đồng thuận
TS Nguyễn Tiến Dĩnh nhận định ở khu vực đô thị, việc sáp nhập tổ dân phố tương đối thuận lợi do dân cư tập trung, khoảng cách địa lý nhỏ và mức độ đồng nhất xã hội cao hơn.
Nhưng với việc sáp nhập các thôn ở các vùng sẽ có nhiều đặc thù cần quan tâm hơn. Bởi có nhiều nơi các thôn, làng, bản... có khoảng cách nhau hàng km. Đặc biệt còn liên quan đến văn hóa, truyền thống, phong tục tập quán... dù là hai thôn liền kề nhưng lại khác nhau.
"Đương nhiên phải sắp xếp nhưng cần cân nhắc, làm thế nào để đảm bảo sự tương đồng tốt nhất. Bởi hiện nay mỗi thôn lại có truyền thống, có đình làng, chùa làng, thành hoàng làng riêng...
Vì vậy việc sắp xếp không thể cứng nhắc, áp đặt theo quy mô dân số để sáp nhập cơ học. Mục tiêu tinh gọn nhưng cũng phải đảm bảo phù hợp truyền thống, đoàn kết, đồng thuận", ông Dĩnh nói thêm.

Phường Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng) có 260 tổ dân phố- Ảnh: UBND phường Ngũ Hành Sơn cung cấp
Trưởng thôn, tổ trưởng dân phố có thể nhận tổng phụ cấp hơn 20 triệu đồng
Theo dự thảo nghị định quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố, người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố gồm ba chức danh là trưởng thôn hoặc tổ trưởng tổ dân phố, bí thư chi bộ, trưởng ban công tác Mặt trận. Số lượng người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố không quá ba.
Liên quan đến khoán quỹ phụ cấp, ngân sách nhà nước khoán quỹ (bao gồm cả hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế) để chi phụ cấp hằng tháng đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố.
Bộ Nội vụ dự kiến khoán quỹ phụ cấp tăng từ mức 6,0 lần (hiện nay) lên mức 8,0 lần mức lương cơ sở đối với thôn, tổ dân phố có yếu tố đặc thù. Đồng thời tăng từ 4,5 lần lên 6,5 lần mức lương cơ sở đối với các thôn, tổ dân phố còn lại.
UBND tỉnh trình HĐND cùng cấp quy định cụ thể mức phụ cấp của từng chức danh người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố bảo đảm tương quan hợp lý với mức lương bậc 1 của chuyên viên. Như vậy, mức khoán phụ cấp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố và hai chức danh còn lại vẫn được tính theo mức lương cơ sở.
Theo nghị định 161/2026 quy định lương cơ sở lên mức 2,53 triệu đồng từ ngày 1-7. Cùng với việc sẽ có mức khoán phụ cấp mới sau sắp xếp thôn và tăng lương cơ sở, từ thời điểm 1-7 tới, mức khoán phụ cấp mới của các chức danh không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố sẽ tăng lên.
Dự kiến thôn, tổ dân phố đặc thù có mức khoán bằng 8,0 lương cơ sở, tương ứng 20,24 triệu đồng với ba chức danh, trong đó có trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố. Với các thôn, tổ dân phố còn lại có mức khoán 6,5 lần lương cơ sở, tương ứng với 16,445 triệu đồng với ba chức danh.
Rà soát người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố
Với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố, theo số liệu tổng hợp của Bộ Nội vụ hiện có 268.722 người đang tiếp tục được bố trí, hưởng phụ cấp theo quy định. Ngân sách nhà nước chi khoảng 943 tỉ đồng/tháng (tương đương khoảng 11.316 tỉ đồng/năm) để chi phụ cấp.
Khi thực hiện sắp xếp theo hướng tăng quy mô thôn, tổ dân phố, khối lượng, tính chất công việc có sự thay đổi, đòi hỏi phải tiếp tục rà soát, điều chỉnh chế độ, chính sách, phương án bố trí cho phù hợp, bảo đảm tương xứng với quy mô, tính chất công việc, yêu cầu nhiệm vụ trong bối cảnh mới.